Cứu hộ thành công 2 cá thể Gấu ngựa
Chi cục Kiểm lâm thăm, tặng quà gia đình chính sách nhân dịp 27/7
Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR thực hiện tốt nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2018
Huấn luyện PCCC và cứu hộ cứu nạn năm 2018
Hội nghị đánh giá kết quả thực hiện công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng vùng giáp ranh
»  Về công tác tổ chức bộ máy
»  Về công tác tài chính&CĐCS
»  Về công tác QLBV&PTR
»  Về công tác BTTN
»  Về công tác PC-TT
»  TC Xây dựng lực lượng
»  Quản lý bảo vệ rừng
»  Hành chính tổng hợp
»  Thanh tra pháp chế
»  Bảo tồn thiên nhiên
»  Thủ tục Hành chính
»  Danh sách (List)
Trực tuyến: 25
Lượt truy cập: 6189528
Ngày hôm nay: 11435
Ngày hôm qua: 10714
Giới thiệu
Giới thiệu chung về lực lượng Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên

I. Một số nét về quá trình thành lập và trưởng thành của Kiểm lâm Thái Nguyên.
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi vùng Đông Bắc, có diện tích rừng tự nhiên là: 354.150,15 ha, trong đó rừng và đất lâm nghiệp là: 179.883,78 ha, chiếm 50.8%.
Trong đó:   Đất có rừng : 167.903,49 ha gồm Rừng Tự nhiên : 99.921.9ha; Rừng trồng: 67,981,9ha  chia ra:
+ Rừng đặc dụng: 33,458,9ha,
+ Rừng phòng hộ : 45,810,4ha,
+ Rừng sản xuất 88,634,5ha,
+ Đất chưa có rừng: 11,979,8ha (trong đó bao gồm cả núi đá).
+ Ngày 17/01/1974 Kiểm lâm Bắc Thái (nay là Thái Nguyên) được thành lập theo Nghị định 101/CP của Chính Phủ. Tổ chức bộ máy bao gồm: 03 Phòng nghiệp vụ, 01 Đội Kiểm soát lưu động, Trạm phúc kiểm lâm sản Đa Phúc và Hạt phúc kiểm lâm sản thành phố Thái Nguyên, 10 Hạt Kiểm lâm tổ chức theo địa giới hành chính với tổng số 274 biên chế.
Năm 1979, theo Nghị định số 368/CP, Chi cục Kiểm lâm Bắc Thái được sáp nhập vào Sở lâm nghiệp. Thời điểm này, 2 Hạt Kiểm lâm Ngân Sơn và Chợ Rã được cắt theo 2 huyện về tỉnh Cao Bằng. Theo Quyết định số 80/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, Trạm phúc kiểm lâm sản Đa Phúc đã được giải thể, Đội tuần tra lưu động được sáp nhập vào phòng Pháp chế, đồng thời Trạm Kiểm lâm Núi Cốc được thành lập để bảo vệ 6.000 ha rừng cấm Núi Cốc. Năm 1988, được sự nhất trí của Bộ Lâm nghiệp, UBND tỉnh Bắc Thái đã ra Quyết định số 145/QĐ-UB về việc thành lập 02 Trạm kiểm soát lâm sản Hoá Trung và Sơn Cẩm trực thuộc Chi cục Kiểm lâm, nhằm ngăn chặn vận chuyển lâm sản trái phép trên Quốc lộc 1B và Quốc lộ 3.
Năm 1990, UBND tỉnh có Quyết định số 111/QĐ-UB ngày 15 tháng 9 năm 1990, thành lập Hạt lâm nghiệp - Kiểm lâm trực thuộc Sở lâm nghiệp; lúc này lực lượng Kiểm lâm còn lại 02 Phòng chức năng và 3 Trạm trực thuộc với tổng biên chế 37 cán bộ, công chức. Năm 1991, khi thành lập Ban quản lý rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc, Sở lâm nghiệp Bắc Thái có Quyết định đưa Trạm Kiểm lâm Núi Cốc trực thuộc Ban. Chi cục Kiểm lâm còn lại 27 cán bộ, công chức.
Thực hiện Nghị định 39/CP của Chính phủ, UBND tỉnh Bắc Thái đã ra Quyết định số 109/QĐ-UB ngày 30 tháng 9 năm 1994 về việc tách Chi cục Kiểm lâm trực thuộc Sở Lâm nghiệp sang trực thuộc UBND tỉnh Bắc Thái; lúc này, biên chế của Kiểm lâm Bắc Thái là 255 người.
Khi tỉnh Bắc Thái chia tách thành 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn, UBND tỉnh Thái Nguyên đã có Quyết định số 39/QĐ-UB ngày 22 tháng 01 năm 1997 về việc tổ chức lại bộ máy của Chi cục Kiểm lâm Thái Nguyên gồm: 3 Phòng tham mưu, 01 Đội Kiểm lâm cơ động, 01 Hạt phúc kiểm lâm sản và 3 Trạm kiểm soát, 01 Hạt Kiểm lâm đặc thù (quản lý bảo vệ rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc), 8 Hạt Kiểm lâm địa bàn (có 01 Hạt Kiểm lâm liên huyện). Năm 2004, UBND tỉnh đã có QĐ tách Trạm Kiểm lâm thị xã Sông Công trực thuộc Hạt Kiểm lâm Phổ Yên về trực thuộc Chi cục Kiểm lâm .
Năm 2005, UBND tỉnh có Quyết định số 1410/QĐ-UBND sáp nhập Ban quản lý rừng phòng hộ (trực thuộc Sở nông nghiệp và PTNT) và Hạt Kiểm lâm Núi Cốc thành Ban quản lý rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc trực thuộc Chi cục Kiểm lâm.
Năm 2006, UBND tỉnh có Quyết định số 448/2006/QĐ -UBND thành lập Đội Kiểm lâm cơ đông số 2 trên cơ sở xắp xếp lại 02 Trạm kiểm soát lâm sản và QĐ số 2307/QĐ-UBND ngày 18/10/2006 V/v tổ chức lại Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng huyện Võ Nhai trực thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên.
Thực hiện Nghị định số 119/2006/NĐ-CP ngày 16/10/2006 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm.  Ngày 28/12/2007 UBND tỉnh Thái Nguyên có Quyết định số: 3091/QĐ-UBND V/v Chuyển Chi cục Kiểm Lâm trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh về trực thuộc Sở nông ngiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên
Ngày 13/01/2010 UBND tỉnh có Quyết Định số 51/QĐ-UBND về việc thành lập BQL ATK Định Hoá trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại BQL ATK Định Hoá và Hạt Kiểm lâm Định Hoá.
Hiện tại tổ chức bộ máy theo Quyết đinh số 1318/QĐ-UBND ngày 17/06/2008 V/v Tổ chức lại bộ máy của Chi cục Kiểm lâm và Quyết Định số 51/QĐ-UBND ngày 13/01/2010. Bộ máy của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên gồm: 04 phòng nghiệp vụ; 01 đội Kiểm lâm cơ động – Phòng cháy chữa cháy rừng; 08 Hạt Kiểm lâm địa bàn của 08 Huyện, Thành phố, Thi xã; 03 Ban quản lý rừng; 02 Hạt Kiểm lâm đặc thù (Hạt Kiểm lâm Hồ Núi Cốc và Hạt Kiểm lâm rừng ATK Định Hoá).
Tổ chức nhân sự của Chi cục Kiểm lâm Thái Nguyên: Năm 2009 là: Tổng số biên chế được giao: 193 người trong đó: Cán bộ, công chức: 150 người; Viên chức: 17 người (Trong đó có 02 người hợp đồng theo Nghị định 68/CP); Hợp đồng theo Nghị định 68/CP: 16 người; Hợp đồng dự tuyển là: 10 người;
Hiện tại (Đến thời điểm 31/12/2009) Tổng số biên chế của Chi cục Kiểm lâm là: 185 người trong đó: Cán bộ, công chức: 146 người; Viên chức: 16 người; Hợp đồng theo Nghị định 68/CP: 16 người; Hợp đồng dự tuyển là: 07 người; Hợp đồng lao động là 42 người thực hiện nhiệm vụ QLBVR.
Về trình độ đào tạo: Thạc sĩ: 03 người; Đại học 85 người; Trung học + cao đẳng 112 người, Sơ cấp và chuyên môn khác 11 người.
II. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên
1. Tham mưu cho cấp có thẩm quyền về bảo vệ rừng và bảo đảm chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng ở địa phương:
a) Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành về bảo vệ rừng, quản lý lâm sản trên địa bàn theo quy định của pháp luật;
b) Xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm về bảo vệ rừng, quản lý lâm sản; phương án, dự án phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, khai thác và sử dụng lâm sản, phòng cháy, chữa cháy rừng ở địa phương;
c) Huy động các đơn vị vũ trang; huy động lực lượng, phương tiện khác của các đơn vị, cá nhân đóng trên địa bàn để kịp thời ngăn chặn, ứng cứu những vụ cháy rừng và những vụ phá rừng nghiêm trọng trong những tình huống cần thiết và cấp bách;
d) Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm, chế độ, chính sách sau khi được ban hành; hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về bảo vệ rừng, quản lý lâm sản ở địa phương;
đ) Đề xuất với cấp có thẩm quyền quyết định những chủ trương, biện pháp cần thiết thực hiện pháp luật, chính sách, chế độ bảo vệ rừng ở địa phương.
2. Tổ chức, chỉ đạo bảo vệ rừng ở địa phương:
a) Chỉ đạo, tổ chức thực hiện các biện pháp chống chặt, phá rừng trái phép và các hành vi trái pháp luật khác xâm hại đến rừng và đất lâm nghiệp;
b) Tổ chức dự báo nguy cơ cháy rừng; xây dựng lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng chuyên ngành; thống kê, kiểm kê rừng và đất lâm nghiệp; tham gia phòng, trừ sâu bệnh hại rừng;
c) Quản lý hệ thống rừng đặc dụng, phòng hộ trên địa bàn; trực tiếp tổ chức bảo vệ các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ thuộc địa phương quản lý;
d) Chỉ đạo, phối hợp hoạt động bảo vệ rừng đối với lực lượng bảo vệ rừng của các chủ rừng, kể cả lực lượng bảo vệ rừng của cộng đồng dân cư trên địa bàn.
3. Bảo đảm chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng ở địa phương:
a) Kiểm tra, hướng dẫn các cấp, các ngành trong việc thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn;
b) Chỉ đạo và tổ chức, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng trong lực lượng kiểm lâm địa phương và trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng, quản lý khai thác và sử dụng lâm sản theo quy định của pháp luật;
c) Quản lý, chỉ đạo, kiểm tra và tổ chức thực hiện các hoạt động xử lý vi phạm hành chính; khởi tố, điều tra hình sự các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý rừng, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản theo quy định của pháp luật;
d) Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ rừng khi rừng bị xâm hại.
4. Tổ chức thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng ở địa phương.
5. Xây dựng lực lượng và bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức kiểm lâm:
a) Quản lý, chỉ đạo hoạt động các đơn vị trực thuộc theo quy định của pháp luật;
b) Tổ chức công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho công chức Kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng ở địa phương;
c) Cấp phát, quản lý trang phục, phù hiệu, cấp hiệu, biển hiệu, cờ hiệu, thẻ kiểm lâm, vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, trang thiết bị chuyên dùng của kiểm lâm địa phương; ấn chỉ xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản.
6. Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong hoạt động của Kiểm lâm địa phương.
7. Quản lý tổ chức cán bộ, biên chế, kinh phí, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với công chức kiểm lâm địa phương theo quy định của pháp luật.
8. Chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ; chấp hành chế độ báo cáo thống kê theo hướng dẫn của Cục Kiểm lâm.
9. Thực hiện các nhiệm vụ khác về phát triển lâm nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phân công.
Tin khác:

txt=No%20item%20selected